BỆNH VIÊM MÀNG PHỔI



 I. Nguyên nhân: 

Bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm trên bò (Contagious Bovine Pleuropneumonia - CBPP) do Mycoplasma mycoides subsp. mycoides SC (bovine biotype) gây ra. Mycoplasma là những vi khuẩn không có vách tế bào cho nên chúng đa hình thái và đề kháng với kháng sinh thuộc nhóm beta-lactamine như penicilline. CBPP lan rộng ở Châu phi và cũng hiện diện ở các vùng khác trên thế giới như nam châu Âu, trung đông và một phần châu Á. 

 

II. Sự truyền lây: 


Trong điều kiện tự nhiên, CBPP truyền trực tiếp từ vật nhiễm sang các bò nhạy cảm do tiếp xúc qua hơi thở, ho có chứa M.mycoides. Bò phơi nhiễm nếu nhạy cảm có thể phát triển thành CBPP ít nhất sau 6 tháng. Trong ổ dịch có khoảng 40 % bò phơi nhiễm bị phát bệnh, tỉ lệ chết từ 10 – 70 %. Bệnh lây truyền chậm. CBPP rất dễ được truyền lây trong giai đoạn sớm của bệnh, ngay trong thời kỳ ủ bệnh (trước khi có triệu chứng) qua hơi thở. Một số bò trở thành vật mang trùng, chúng không có dấu hiệu bệnh, nhưng nguy nhiểm do gieo rắc mầm bệnh vào vùng chưa nhiễm và hầu hết các ổ dịch mới thường bắt nguồn từ vật mang trùng hoặc gia súc trong thời kỳ ủ bệnh có vẻ ngoài khoẻ mạnh. 


III. Triệu chứng: 


Bò là loài nhiễm tự nhiên với bệnh CBPP. Trong ổ dịch có 33 % gia súc có triệu chứng, 46 % nhiễm nhưng không có triệu chứng, 21 % đề kháng. Bò nhạy cảm thường phát thành triệu chứng sau 3-6 tuần phơi nhiễm, nhưng với bò nhạy cảm cao triệu chứng phát triển trong vòng 10-14 ngày. Có 3 thể bệnh: 
- Thể cấp tính: Là thể phổ biến nhất và thường đưa đến tử vong, gia súc còn sống sót gầy sút. Thân nhiệt gia súc nhiễm trùng đột ngột tăng cao, bỏ ăn, lượng sữa giảm ở bò cho sữa. Bò thở nhanh và sâu, sau đó bò ho thường xuyên, cuối cùng là ho khô, có dịch mủ. Quá trình diễn tiến bệnh: bò tỏ vẻ đau đớn khi hít vào và thở ra. Tư thế điển hình của bệnh thể hiện qua: đầu cúi thấp hơn, lưng cong hình vòm, các điểm khớp khuỷu dang xa để giản rộng lồng ngực, mồm há to để dễ thở. Thường vi khuẩn xâm lấn chỉ một phổi. Giống như sự phát triển của bệnh viêm phổi màng phổi, phổi bị viêm và sưng. Trong trường hợp chết, khí đi qua các tiểu phế nang đầy niêm dịch, thân phổi trở nên cứng với sợi dính mô, theo sau bởi sự chết của mô phổi. Gia súc chịu đựng sự thiếu khí. Mô sợi nối bình thường không gắn nối mặt ngoài của phổi với mặt trong vách xoang ngực. Lượng lớn dịch có thể làm đầy khoan xoang ngực, mô phổi bị vỡ ra. Rồi thì bò bị giảm cân, trở nên suy kiệt, ngừng nhai lại. Phù nề hoặc sưng phát triển ở họng, yếm bò. Bò có thể bị bại chân (sụm xuống), không đứng được trước khi chết. Từ lúc có dấu hiện đầu tiên đến khi chết có thể kéo dài 2-5 tuần. 
- Thể quá cấp tính: Thể quá cấp của bệnh CBPP không phổ biến. Bò ở thể nầy phát triển nhiều triệu chứng như thể cấp tính nhưng triệu chứng viêm phổi trầm trọng hơn. Cái chết đến sau 1-3 tuần có triệu chứng. 
- Thể mãn tính: Bò thường không có triệu chứng bệnh, chúng trở thành vật mang trùng và tiếp tục truyền lây CBPP. Thường thể nầy không gây chết trong nhiều năm, nhưng bất cứ lúc nào khi có áp lực stress sẽ làm phát triển thành bệnh thể cấp tính. 
*Chẩn đoán phân biệt: 
- Các bệnh viêm phổi do vi khuẩn khác, thí dụ Tụ huyết trùng 
- Viêm phổi do thuốc xông.
- Nhiễm sán lá mãn 
- Chấn thương ngoại tâm mạc 
- Viêm phổi kẽ không điển hình 


IV. Bệnh tích: 


Viêm dính phổi màng phổi, có sợi tơ huyết (fibrin): Lượng lớn dịch tiết màu vàng hay đục trong xoang ngực đông (có khi đến 30 lít) hình thành các khối tơ huyết to. Màng phổi dầy và viêm sưng với các sợi tơ. Phù nề ứ dịch giữa các tiểu thùy, hiện tượng hoa vân xuất hiện do sự gan hóa, Mảnh mục rữa với các mô hoại tử màu nâu xung quanh các ổ xơ. 


V. Phòng bệnh: 


- Tránh các yếu tố stress cho gia súc: quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt (khi thời tiết quá khô nóng thì che chắn cho bò hoặc tìm chỗ trú có bóng mát, không thay đổi khầu phần quá đột ngột, bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần nhất là bò lấy sữa…) 
- Bổ sung khoáng để tăng cường sức khoẻ cho bò, tránh thiếu chất, kiềm hóa thức ăn thô xanh, thô khô,… 
- Chú ý chăn nuôi an toàn sinh học: Cách ly gia súc với nguồn lây truyền bệnh, tránh khách thăm viếng, tham quan, tránh mượn dụng cụ, xe cộ ở các trại chăn nuôi khác,... 
- Thực hiện tiêu độc sát trùng chuồng trại triệt để: 
+ Bố trí hố tiêu độc ở mỗi cửa chuồng/ trại (bằng vôi bột hoặc dung dịch thuốc sát trùng) 
+ Định kỳ tiêu độc: Khi có nguy cơ dịch tiêu độc mỗi ngày 1 lần liên tục 3-7 ngày, bình thường định kỳ tiêu độc mỗi tuần hoặc 2-3-4 tuần/ lần. 
- Tiêm phòng: Bố trí tiêm phòng các loại bệnh đã có vaccine.
- Chú ý kiểm tra ký sinh trùng (nội, ngoại ký sinh) bằng cách bố trí tẩy giun sán định kỳ chặt chẻ 


VI. Điều trị: 


Dùng một trong các loại thuốc sau để điều trị:
-      Pharmatil-20 (Thái Lan): Dùng 3-5 ngày với liều lượng 1-2kg/1000 lít nước trong 5-7 ngày.
-      GV- DOXY: DÙng với liều lượng 1g/1kg thức ăn.

Để có những chỉ dẫn chính xác, khách hàng vui lòng gọi điện theo số: Mr. Hồng (chuyên gia kỹ thuật): 0976 723 745. 

Nội dung khác liên quan:

Bệnh tụ huyết trùng gà